Kỳ 1: Nói về ghita.
Cấu tạo của ghita:
Ghita nói chung (cả Cassic và Acoustic Guitar) h́nh dạng đều gần tương tự như nhau (trừ cần acoustic dài hơn và thon hơn 1 tư ) đều gồm 2 phần: Cấn đàn và thùng đàn.
1 - Cần đàn ghita là 1 thanh gỗ dài trên có phím đồng được gắn chặt và dây đàn, ở đầu có các ốc điều chỉnh độ căng của dây.Quy ước là mặt có căng dây và có các phím đồng gọi là mặt cần đàn, mặt phía đối diện gọi là lưng cần đàn. Dây đàn có 6 chiếc từ chiếc to nhất ở trên cùng (Ḿ) đến dây thấp nhất ở dưới cùng (mí) ta có thứ tự các nốt sau:
Ḿ – La – Rê – Son – Xi – Mí.
Tiện đây nói luôn là kí hiệu các nốt trong bản nhạc như sau:
Đồ Rê Mi Fa Son La Xi
C D E F G A B
C̣n các dây ghita thể hiện trên tab như sau:
e||-------||
B||-------||
G||-------||
D||-------||
A||-------||
E||-------||
Cách đọc tab rất đơn giản: Để ghita nằm ngang theo chiều dài màn h́nh sao cho mặt cần đàn hướng về phía ḿnh, đầu đàn hướng sang trái.Luc này dây to nhất là Ḿ ở dưới cùng ứng với E, theo thứ tự sẽ như h́nh trên (Tab ghita là 1 cái vô cùng quan trọng để có thể viết ngắn gọn 1 đoạn nhạc mà không cần phải dùng nốt, v́ vậy mong mọi người nhớ kĩ, cái này về sau rất quan trọng, c̣n thiếu phần đọc nốt trên Tab ḿnh sẽ chỉ sau)
2 – Thùng đàn ghita tuy không cần thiết phải biết nhiều nhưng đă học th́ cũng nên biết. Ở giữa có 1 cái lỗ to gọi là lỗ cộng hưởng, về phía đuôi đàn có 1 thanh gỗ nhỏ nằm ngang để dây đàn đi qua gọi là ngựa mắc dây. Công dụng của thùng đàn là để cộng hưởng âm thanh.Khi chơi ta nên đánh vào giữa lỗ cộng hưởng để âm vang và ấm nhất.
Vị trí và cách đặt, bấm tay trái , phải
1 - Quy ước bàn tay trái: ngón trỏ kư hiệu là 1 (thường th́ trong những bản nhạc của classic ghita mới có những kí hiệu ngón tay trái này, c̣n đệm ghita th́ bấm hợp âm rồi chứ không phải chạy ngón nữa) bấm ô đầu tiên của tất cả các dây (tuỳ những trường hợp khác nhưng thường th́ như thế) ngón giữa kí hiệu là 2 bấm ô thứ 2 của tất cả các dây, tương tự ngốn đeo nhẫn kí hiệu 3 - ô 3, ngón út kí hiệu 4 - ô 4.
Nói như trên nếu khó hiểu th́ các bạn có thể h́nh dung ra là khi bấm ghita thi phải bấm ngón theo thứ tự từ trên xuống dưới kể từ ngón trỏ đến ngón út, chư ko thể nào mà ngón trỏ bấm ô 3 mà ngón út bấm ô 1 được.
2 - Quy ước bàn tay phải: ngón cái gảy 3 dây trên cùng khi cầm đàn là E – A - D (có nghĩa là dưới cùng của bảng Tab) ngón trỏ gảy dây thứ 4 khi cầm đàn là G (có nghĩa là dây thứ 3 từ trên xuống của bảng Tab) ngón giữa gảy dây thứ 5 khi cầm đàn là B (có nghĩa là dây thứ 2 từ trên xuống của bảng Tab) ngón út gảy dây thứ 6 khi cầm đàn là e (có nghĩa là đầu tiên từ trên xuống của bảng Tab)
3 - Cách cầm đàn: Vị trí và cách đặt tay trái nơi cần đàn thực tế phụ thuộc rất nhiều vào việc cụ thể chúng ta đang chơi cái ǵ. Cho nên nội dung tŕnh bày ở đây chỉ là những vấn đề có tính chất tổng quát, cơ bản... có thể coi như là một xuất phát điểm.
Thế tay quan trọng nhất mà chúng ta cần làm quen gọi là “Thế tay cơ bản”. Ngón cái tay trái đặt ở lưng cần đàn đối diện với khoảng giữa ngón trỏ và ngón giữa (ở phía mặt cần đàn), và ở vào khoảng giữa (theo chiểu rộng chứ không phải chiều dài) của lưng cần đàn. Những điểm nối giữa ngón tay và bàn tay (các gốc ngón tay) ở ngay phía dưới cần đàn đúng vào khoảng ngang với mặt cần đàn (không đẩy về phía trước, không thụt về phía sau).
Phần duy nhất của ngón cái tiếp xúc với cần đàn là phần thịt phía bên phải hoa tay ,bên phải là khi ngửa bàn tay lên, tức là phía gần ngón trỏ).
Có một số lỗi thường hay gặp, nên chú ư, tránh không khoằm ngón cái về phía ḷng bàn tay, tránh không “bấm” cần đàn bằng đầu ngón cái, cổ tay trái hơi cong tự nhiên, tránh không “ưỡn” về phía trên – trước.
Thế tay này gọi là “cơ bản” v́ theo cách như vừa mô tả, cả 04 ngón tay có thể bấm các phím, các dây trên cần đàn một cách dễ dàng.
Nếu ngón tay cái để cao quá (theo chiều từ dưới lên) về phía trên lưng cần đàn, th́ việc bấm các nốt bằng ngón tay út sẽ hết sức khó khăn (ở thế tay nào cũng vậy, đa phần lỗi bấm đều là do ngón đeo nhẫn và ngón út gây ra ) và sẽ rất khó “chạy” các nốt đ̣i hỏi phải “doăng” rộng các ngón tay.
Thế tay “ngũ âm”,ngón cái tay trái có thể đưa cao lên, bóp thoải mái phía trên cần đàn, khuỷu tay có thể hơi khép lại một cách tự nhiên, phần thịt phía ngoài ngón tay trỏ ôm thoải mái phía dưới cần đàn, và nói chung chỉ cần bấm bằng ngón trỏ, ngón giữa và ngón đeo nhẫn thôi.
Thế tay “ngũ âm” c̣n thể hiện một công dụng lớn khi chơi vít dây (bấm dây trên một phím, đẩy căng dây lên tạo âm thanh cao hơn). Việc này thực hiện dễ dàng hơn với ngón cái bóp phía trên cần đàn. Ở thế tay cơ bản, làm cái này hoàn toàn không đơn giản.
Một điểm cần hết sức lưu ư là dù cho đang chơi ở thế tay nào, th́ cũng tránh đặt cả ḷng bàn tay trái lên lưng cần đàn. Ngón tay cái có thể “quắp” hẳn lên phía trên cần đàn, những vẫn luôn luôn c̣n một khoảng trống giữa ḷng bàn tay trái và lưng cần đàn.
Hết kỳ 1.